Nguyên nhân và giải pháp cho nạn ô nhiễm môi trường

Việc không phân tích môi trường đúng đắn, không nắm rõ quy trình xử lý môi trường dễ làm cho ô nhiễm môi trường thêm trầm trọng. Bài viết sẽ điểm qua một vài nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường cơ bản để có thể hiểu rõ hơn về việc ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay

 Tình trạng ô nhiễm môi trường có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

         Thứ nhất, những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế… trong việc bảo vệ môi trường.

Thứ hai, quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả.

Thứ ba, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.

Thứ tư, công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường.

Thứ năm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.

Một số giải pháp khắc phục cần làm nhanh chóng:

Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình CNH, HĐH hiện nay là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công dân. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi); các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường… Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp quy này đi vào cuộc sống đã bước đầu tạo ra một số chuyển biến tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường, song vẫn còn nhiều mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Để ngăn chặn, khắc phục và xử lí có hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lí hình sự) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống xử lý môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp và thân thiện hơn với con người.

Hai là, tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường (thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này.

Ba là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo như ở nhiều địa phương thời gian vừa qua, gây khó khăn cho công tác quản lí nói chung, quản lí môi trường nói riêng. Đối với các khu công nghiệp, cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lí nước thải , phân tích môi trường tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lí nước thải, rác thải tại đó.

Bốn là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư. Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài. Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và dự án đó.

Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên – con người – xã hội.

 Theo Bộ TNMT

Thời tiết biến đổi một phần do tác nhân con người

Mới đây theo các nhà nghiên cứu trên thế giới, việc nóng lên của Trái đất là do một phần tác nhân của con người. Khí hậu biến đổi gây ra lũ lụt, hàng loạt đợt nắng nóng ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới đang là đề tài được đưa ra bàn luận sôi nỗi. Bản tin Xã hội Khí tượng thủy văn Mỹ tổng hợp vào ngày 29/9.

Nghiên cứu trên nằm trong báo cáo hàng năm có tựa đề “Giải thích các sự hiện tượng cực đoan năm 2013 từ góc nhìn khí hậu”, tập hợp khoảng 16 hiện tượng thời tiết cực đoan như các đợt mưa lớn, lũ lụt, hạn hán và bão. Tuy không phản ánh một cách tổng thể tình hình biến đổi khí hậu, song tác động to lớn của những hiện tượng thời tiết nói trên lại thu hút sự quan tâm và mục đích nghiên cứu của nhóm tác giả của báo cáo, gồm 92 nhà khoa học trên toàn cầu.

Theo các nghiên cứu, một lượng khí CO2 tăng là do việc nhiên liệu hóa thạch bị đốt tại Úc là ví dụ điển hình cho thấy mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết với sự ảnh hưởng của con người. Báo cáo đưa ra năm dẫn chứng độc lập cho thấy tác động nặng nền của con người đối với việc biến đổi khí hậu và qua đó để lại hậu quả là các đợt nóng trầm trọng tại Australia. Ngoài ra việc nóng lên của Trái Đất còn gây ra đợt hạn hán kéo dài tại New Zealand trong ănm ngoái.

Các nước Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng phải trải qua mùa Hè nắng nóng trong năm ngoái với nhiệt độ tăng cao. Các nhà khoa học cho rằng đây là hệ quả của sự biến đổi khí hậu, bắt nguồn từ những hoạt động do con người gây ra. Trong khi đó, loạt nghiên cứu trong báo cáo còn còn cho thấy sự biến đổi khí hậu mà con người là tác nhân cũng dẫn tới đợt lũ lụt tại Ấn Độ hồi tháng 6/2013. Đây là trận lũ lụt lớn nhất trong vòng 100 năm qua tại quốc gia Nam Á này. Trong khi đó, người dân tại các nước châu Tây Âu cũng chứng kiến mùa Hè nóng và khô, do biến đổi khí hậu và hoạt động của con người khiến nhiệt độ tăng cao.

Tuy vậy, giới nhà khoa học lại nhận định khó có thể kiểm chứng mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan khác và sự ảnh hưởng của con người. Báo cáo cho rằng một số hiện tượng thời tiết cực đoan khác như bão hay bão tuyết, trong đó có đợt bão tuyết tại miền Nam Dakota (Đa-cô-ta), bão Christian tấn công khu vực Tây Âu và tuyết rơi ở dãy núi Pyrenees, phía Tây Nam Âu, là do sự biến đổi về thiên nhiên gây ra.

Theo các nhà khoa học, sự biến đổi khí hậu tác động đến hầu hết hiện tượng thời tiết, trong đó có các đợt nắng nóng. Với những kết luận và nhận định trên, nhóm tác giả hy vọng trong tương lai thế giới sẽ có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan.

Bầu không khí bị ô nhiễm có thể gây rối loạn lo âu và đột quỵ

Tạp chí Y khoa Anh mới đây đưa ra một thống kê, nghiên cứu với quy mô lớn vừa cho ra kết quả cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm bụi không khí nói riêng có thể tăng nguy cơ đột quỵ, nguy cơ càng tăng cao ở các nước đang phát triển

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ô nhiễm không khí cũng làm tăng nguy cơ rối loạn lo âu cho con người.

Mỗi năm có khoảng 5 triệu người tử vong do chứng đột quỵ trên toàn thế giới. Những yếu tố tăng nguy cơ đột quỵ như béo phì, hút thuốc lá và cao huyết áp đã được khảo sát nhưng ảnh hưởng từ môi trường như không khí ô nhiễm chưa được ghi nhận rõ do thiếu bằng chứng. Lần này, các nhà khoa học Anh tại ĐH Edinburgh xem xét và phân tích lại mối liên quan giữa không khí ô nhiễm với chứng đột quỵ và tử vong được ghi nhận trong 103 khảo sát trước đó ở 28 nước.

Chất ô nhiễm trong không khí được phân tích bao gồm carbon monoxide, sulphur dioxide, nitrogen dioxide và ozone. Kết quả cho thấy nguy cơ đột quỵ gia tăng đáng kể do ô nhiễm carbon monoxide, sulphur dioxide và nitrogen dioxide. Cả bụi không khí có kích cỡ PM 2.5 và PM10 đều liên quan đến nguy cơ đột quỵ. Mức độ ô nhiễm không khí nặng hơn tại các nước có thu nhập thấp và trung bình so với các quốc gia có thu nhập cao. Những nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ không khí ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến các tế bào ở hệ tuần hoàn và tăng cường hoạt động của hệ thần kinh giao cảm dẫn tới hẹp mạch máu, tăng huyết áp, hạn chế nguồn máu cung cấp cho mô và tăng nguy cơ đọng huyết khối.

Một khảo sát thứ hai của các nhà khoa học Mỹ tại 2 ĐH Johns Hopkins và Harvard nhằm khẳng định mối liên quan giữa ô nhiễm không khí với chứng rối loạn lo âu. Tổng cộng có 71.271 phụ nữ từ 57 đến 85 tuổi được khảo sát trong 5 giai đoạn – 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm và 5 năm – trước khi xác định triệu chứng rối loạn lo âu. Nhóm nghiên cứu phát hiện mối liên quan giữa ô nhiễm không khí và nguy cơ rối loạn lo âu với bụi không khí PM 2.5 trong khi mối liên quan đó chưa được xác định rõ do ô nhiễm bụi không khí có kích cỡ từ PM 2.5 đến PM 10. Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy triệu chứng rối loạn lo âu xuất hiện phổ biến hơn ở giai đoạn 1 tháng sau khi phơi nhiễm bụi không khí. Rối loạn lo âu là chứng rối loạn tâm thần phổ biến nhất với 16% người trên thế giới từng mắc phải.

Chuyên gia về môi trường Michael Brauer tại ĐH British Columbia ở Canada bình luận rằng 2 nghiên cứu này “khẳng định nhu cầu cấp thiết nhằm quản lý vấn đề ô nhiễm không khí trên toàn cầu và hạn chế ô nhiễm không khí là cách hiệu quả để kéo giảm gánh nặng chi phí bệnh tật do đột quỵ và sức khỏe tâm thần kém”.

 

Những vấn đề môi trường quan tâm hàng đầu hiện nay

Hiện nay môi trường đang bị đe dọa trầm trọng vì tình hình thế giới phát triển càng lúc càng cao, các nhà máy, công trình, xưởng sản xuất mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều khí thải, chất thải nguy hại, dẫn đến môi trường bị đe dọa ô nhiễm. Môi trường toàn cầu hiện nay đầy những yếu tố, nào là hạn hán, đói kém, thiên tai, lũ lụt. Dưới đây sẽ phân tích các vấn đề nghiêm trọng mà trái đất đang phải chống chọi, đối mặt.

 Nguồn nước đang bị khan hiếm

       Hiện nay trên trái đất, diện tích nước chiếm tới khoảng 70% bề mặt, tuy nhiên chỉ có khoảng 2% là nước phù hợp cho tiêu dùng, được coi là nước tinh khiết. Nước được xem là một dạng tài nguyên được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Vấn đề nhắc tới là lượng nước sạch đến với mọi người trên thế giới là không đều.

Nhiều khu vực vẫn phụ thuộc vào lượng nước mưa dự trữ, tuy nhiên nếu khí hậu biến đổi thì nguồn nước cung cấp từ thiên nhiên là vô cùng khan hiếm, dẫn đến khan hiếm nước cho sinh hoạt. Tuy nhiên có nơi lại lũ lụt thiên tai, lũ quét làm phá hủy hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo trong khu vực.

Ngoài ra, một trong những mối quan tâm lớn về y tế liên quan trực tiếp với vấn đề môi trường này là việc tiếp cận với nước sạch. Rất ít người trên toàn thế giới có thể truy cập nguồn nước uống. Điều này gây ra một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho những người dân sống ở khu vực đó.

 Nạn phá rừng

Ngày nay thiên tai lũ lụt, hạn hán ngày càng nặng nề, đáng cảnh bảo, nguyên nhân sâu xa là do phần rừng bị khai thác một cách vô tội vạ. Nạn phá rừng hầu như xảy ra trên toàn thế giới, các tổ chức cây xanh trên thế giới đã cảnh báo rất nhiều về việc tàn phá hệ sinh thái cây xanh sẽ ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu.

Cuộc sống phát triển, nhu cầu tiêu thụ nhu yếu phẩm, thực phẩm tăng lên, dẫn đến con người phải phá bỏ nhiều diện tích rừng cho việc trồng trọt. Xã hội phát triển, các đô thị, thành phố lớn mọc ra khiến các cánh rừng bị thay thế bới các tòa cao ốc. Khai thác khoáng sản, dầu và các tài nguyên khác cũng dẫn đến nạn phá rừng

Với nạn phá rừng làm cho nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng. Xói lở đất, biến đổi khí hậu đáng kể và trong một số trường hợp thiên tai như sạt lở đất và lũ quét có thể là do, trực tiếp hoặc gián tiếp phá rừng .

 Sự biến đổi khí hậu toàn cầu

Sự tăng nhiệt độ trái đất đáng kể trong những năm vừa qua đang làm cho thế giới không an tâm. Biến đổi khí hậu trên thế giới dẫn đến thiên tai, động đất, sóng thần, lũ lụt ngày càng xuất hiện với mật độ nhiều và nặng hơn.

Những báo cáo về sự tăng nhiệt độ trong mùa hè, mùa đông không đủ lạnh và khối lượng đất đóng băng cũng giảm. Toàn bộ thế giới bị ảnh hưởng bởi sâu rộng trong tự nhiên. Ảnh hưởng của nó không chỉ gây tử vong cho con người mà còn cho các loài khác sống ở hành tinh này.